Latest Event Updates

Sưu tầm: 8 nhân vật hoạt hình Disney lấy cảm hứng từ người thật

Posted on Updated on

Mụ phù thủy Ursula – Divine

Ursula.jpg

Nhân vật phản diện Ursula của Nàng tiên cá được tạo hình dựa trên Divine – nam ca sĩ, diễn viên nổi tiếng thường hóa trang thành phụ nữ.

Pocahontas – Irene Bedard

Pochahontas.jpg

Nữ diễn viên Irene không những cho Disney “mượn” cảm hứng tạo hình mà còn cả giọng ca của mình nữa.

Bạch Tuyết – Marge Champion

SnowWhite.jpg

Merge là một vũ công, diễn viên xinh đẹp nổi tiếng một thời. Cô chính là nguồn cảm hứng tạo nên nhân vật Bạch Tuyết.

Belle – Sherri Stoner

Belle.jpg

Sherri là diễn viên kiêm nhà văn. Cô từng làm việc cho Disney và trở thành nguồn cảm hứng tạo hình của một vài công chúa Disney.

Captain Hook – Hans Conried

Hook.jpg

Lúc đầu, các nhà làm phim chỉ sử dụng giọng nói của nam diễn viên Hans nhưng với dáng vẻ quá hợp với trang phục Hook, họ đã dùng cả bề ngoài của anh cho nhân vật này.

Aladdin – Tom Cruise

Aladdin.jpg

Thật ra lúc đầu, diễn viên Michael J. Fox của Back to the Future là cảm hứng cho nhân vật nhưng các nhà làm phim cảm thấy họ cần ai đó chín chắn và tinh tế hơn. Lựa chọn cuối cùng chính là Tom Cruise.

Kền kền của The Jungle Book – The Beatles

Vultures.jpg

Nhóm The Beatles ban đầu được chọn lồng tiếng cho những chú kền kền trong phim nhưng không thành công. Tuy nhiên, các nhà làm phim đã dùng vẻ ngoài của họ, đặc biệt là mái tóc làm cảm hứng tạo hình cho kền kền.

Peter Pan – Bobby Driscoll

PeterPan.jpg

Bobby Driscoll là ngôi sao nhí nổi tiếng những năm 50 và là đại diện cho sự ngây thơ và dễ thương.

Genie – Robin Williams

My Dream Job !

Posted on

When I was a school girl, I watched a film called “Phong vien thu viec” that is about journalist’s drawbacks. I also love to read newspaper and write about things in my life. I thought this’s my dream job. I want to be a journalist.

I study journalism at Russia University. I learn many skills, discover my natural abilities. Gradually I challenge myself. I learn to listen and understand others.

People say that: If you’re a journalist, you can hear about things right when they happen and become famous person. I’m not so sure if I become a famous journalist. As fa as I know, journalist know not only what happened but also why it happened and who caused it. I think I will write and tell people about social issue.

If I become a journalist, I will travel around world, or I can spend my days to meet new people in other places.

Salary of journalist is much lower than other jobs in my city. But this doesn’t matter because I love this career.

Tháng 9 mưa!

Posted on

Lâu rồi tôi không gửi cảm xúc vào con chữ! Nhịp sống trôi đi ngày càng hối hả khiến tôi lỡ nhịp với chính những rung động của mình. Tối về thấy gió lùa vào cánh cửa sổ khép hờ. Đưa người tới, tay đóng chốt cửa thật mạnh.  Âm thanh như gõ nhẹ vào trái tim. Trời Moscow dạo này như người đàn bà khó tính: mưa, lạnh. Đã 4 mùa thu nơi đây, tôi vẫn thấy mình bỡ ngỡ mỗi độ giao mùa.

Tự hỏi: Hà Nội đã vào thu ? Xôn xao mùi hoa sữa, vang vọng tiếng rao đêm còn phố nhỏ ấy? Ba năm rồi, tôi và anh không còn liên lạc với nhau. Hôm sinh nhật 24 anh nhắn tin và gọi sang chúc mừng tôi. Hơi bất ngờ, tôi vẫn nghe cuộc gọi của anh. Anh vẫn thế: điệu cười, giọng nói… Nhưng trong tôi đã không còn những xốn xang như thuở nào. Tôi nhận ra rằng: vẫn chưa đủ sâu sắc và mãnh liệt để gọi đó là yêu. Có lẽ, đó chỉ là sự thán phục, hâm mộ đến từ cá nhân tôi. Ngày tôi còn quá ngây thơ và dại khờ chưa hiểu hết được những thứ tình cảm răc rối của con người,đã làm tưởng đó là : YÊU.

Cốc café trên tay, tôi mỉm cười với chính mình : Chuyện tôi và anh cũng đã từng rất vui.

_mg_0917

РОССИЙСКО-ВЬЕТНАМСКИЕ ОТНОШЕНИЯ

Posted on

Дипломатические отношения между СССР и Вьетнамом установлены 30 января 1950 г. О признании Российской Федерации Вьетнам заявил 27 декабря 1991 г.

vietnam_russia_flags
vietnam_russia_flags

О общем инвестиции: По состоянию на 30 июня 2010 г. во Вьетнаме зарегистрированы 64 проекта с участием российского капитала на сумму почти 749 млн. долл. (без учета СП «Вьетсовпетро»). Из них освоено 563,4 млн. долл. В России насчитывается 14 проектов с вьетнамскими инвестициями на сумму 73 млн. долл. (легкая и пищевая промышленность, сфера услуг).

О экономики: В 2010 г. объем двусторонней торговли превысил 2 млрд. долл. США, при этом российский экспорт в СРВ составил около 1 млрд. долл. В структуре российских поставок преобладают металлы, машины и оборудование; вьетнамских – продовольственные товары, сельхозпродукция, текстильные изделия и обувь.

Эффективно работает учрежденное в 1981 г. совместное предприятие «Вьетсовпетро» (участники – ОАО «Зарубежнефть» и Корпорация нефти и газа Вьетнама (КНГ) «Петровьетнам»). На его долю приходится более половины добываемой в СРВ нефти. 27 декабря 2010 г. в Ханое подписано Соглашение между Правительством Российской Федерации и Правительством Социалистической Республики Вьетнам о дальнейшем сотрудничестве в области геологической разведки и добычи нефти и газа на континентальном шельфе Социалистической Республики Вьетнам в рамках совместного российско-вьетнамского предприятия «Вьетсовпетро» сроком действия до 31 декабря 2030 г.

В октябре 2010 г. подписано межправительственное соглашение о сооружении АЭС на территории СРВ, которое открывает путь для создания вьетнамской атомной отрасли, включая возведение нового Центра ядерных исследований, выстраивание национальной системы ядерной и радиационной безопасности и подготовку кадров.

Расширяется инвестиционное сотрудничество в области мобильной связи и информационных технологий (компании «ВымпелКом», «СиБОСС», «Софтлайн»), сборки грузовой автотехники (ОАО «КамАЗ), производства каучука (российско-украинско-вьетнамское СП «Висорутекс»).

межправительственное соглашение о сооружении АЭС на территории СРВ
межправительственное соглашение о сооружении АЭС на территории СРВ

О туристической услуге: В 2010 г. СРВ с туристическими целями посетили свыше 40 тыс. граждан России. С 1 января 2009 г. Вьетнам ввел безвизовый режим поездок для граждан Российской Федерации, приезжающих в СРВ независимо от цели поездки на срок до 15 дней.

0aDKnga131

О социальной области: На протяжении более 20 лет успешно работает Совместный Российско-Вьетнамский Тропический научно-исследовательский и технологический центр в Ханое, учрежденный в соответствии с межправсоглашением от 7 марта 1987 г. Действуют два отделения Тропцентра – в гг. Хошимине и Нячанге.

О здравоохранении:  ноябре 2008 г. в Ханое открылась «Международная офтальмологическая вьетнамско-российская клиника» с участием ФГУ «МНТК «Микрохирургия глаза» им. академика С.Н.Федорова. Клиника оказывает высококачественную помощь пациентам и способствует повышению квалификации вьетнамских офтальмологов. На очереди строительство нового лечебного центра в Ханое и открытие филиала клиники в Хошимине.

Последовательно расширяются российско-вьетнамские культурные связи. В России и СРВ регулярно организуются национальные Дни культуры (Дни культуры России во Вьетнаме состоялись в апреле 2007 г и ноябре 2010 г., Дни культуры Вьетнама в России ? в сентябре 2008 г.), Дни Москвы и Ханоя (очередные Дни Ханоя в Москве проведены в июле 2008 г.), недели российского кино (последняя прошла в Ханое в октябре 2010 г.), выступления художественных коллективов, выставки картин, фотографий, почтовых марок.

12_aA_ZSYM.jpg

Развивается взаимодействие в области образования. В России по гослинии обучаются свыше 1,5 тыс. граждан СРВ, на контрактной основе – около 3,5 тыс. чел. В повестке дня создание в Ханое российско-вьетнамского технологического университета. Россия и Вьетнам постоянно подписали договоры на счет бюджетных студентов, которые из Вьетнама приезжают в Россию учится. В РУДН учатся 143 вьетнамского студента

С точки зрения военных средств: Россия по-прежнему является крупнейшим поставщиком оборудования и вооружения с советских времен для Вьетнама, второе место занимает Израиль .. Вьетнам сейчас по-прежнему использует определенные количества военных техник и вооружений, полученный от США с 1970 года, и ряд китайских в конце 1960-х. С помощью России и Израиля, Вьетнам идет к созданию их оборудования и собственных оружий. В настоящее время Вьетнам инвестирует в строительство завода по производству различных видов оборудования и стрелкового оружия и ракет, которая занимается разработкой судостроительной отрасли.

Tiếp nhận tàu hộ vệ tên lửa Gepard 3.9 do Công ty Roso Bopone Xport (Liên bang Nga) sản xuất,
Tiếp nhận tàu hộ vệ tên lửa Gepard 3.9 do Công ty Roso Bopone Xport (Liên bang Nga) sản xuất,

Нгуен Тхи Бик Нгок

Тофик

“Liệu mùa này ta có tìm thấy nhau?”

Posted on Updated on

Có phải chăng Thu là mùa buồn thương nhung nhớ . Lá chẳng muốn xa cây bấu víu từng ngày, cuối trời tím biếc ngàn mây cũng dìu dặt đi về.Em giấu mình sau đôi chiếc khăn nâu, ngủ vùi vào những khoảng không kỉ niệm.

Có phải chăng Thu là mùa của lặng yên vô tận. Thấy tiếng lao xao rì rầm của lá, nghe  thở dài ngàn năm vô vọng của sỏi đá dưới chân. Em giữ chặt đầu môi những lời yêu chưa nói, đôi mắt huyền đi giữa những chênh vênh.

Có phải chăng Thu là mùa của nỗi niềm không thể gọi tên. Thức suốt đêm thâu hay khi chìm vào trong những mơ tưởng, em vẫn thấy mình nhỏ bé, đơn độc giữa mùa. Lá gọi nhau, mây chờ nhau, những yêu thương liệu có nối những yêu thương. Trăm năm, chuyện của mùa vẫn vậy. Có lẽ chỉ có em và anh rồi sẽ đổi thay. Những câu hỏi tự lòng không trả lời được…liệu mùa này ta có tìm thấy nhau?

3

“Hà Nội đã vào thu chưa Anh?”

Posted on

Đêm về-  phố thoáng mùi hạt dẻ, tiếng rao bánh khúc canh khuya, gánh hàng hoa sớm Hồ Tây…Và em thấy tháng Mười cười trong gió. Những cơn gió mang theo cả nỗi nhớ niềm thương.

Vội vã chào Hà Nội trong buổi chớm thu, em chẳng thể gặp anh để nói lời tạm biệt.Có lẽ vì sợ phố cô đơn giữa mùa lá vàng rơi, sợ trái tim đa cảm nay lại mỏng manh yếu đuối trước hương hoa sữa nồng nàn.

…Lá phong vàng ngơ ngác, chao nghiêng rồi lặng mình thở than với đất. Ánh chiều tà, từng cặp đôi dặt dìu trên phố, bàn tay siết chặt bàn tay. Chỉ riêng mình em ngẩn ngơ, lạc mình giữa nhớ và quên. “Giờ Hà Nội đã vào thu chưa anh?”

Lại một mình ở sân vận động. Có lẽ đã quen cảm giác đó rồi anh ạ: từng cơn gió se lạnh vuốt ve đôi má ửng hồng, cánh mũi đỏ sụt sùi. Muốn hút trọn bầu không khí này vào sâu thẳm tâm hồn. Vì mùa thì vẫn đầy mà lòng em dường như đã vơi quá nửa. Những chiều bình yên quá thành những dai dẳng không dứt trong em.

Phố đã lên đèn rồi, những thì thầm càng về đêm càng khiến em trống trải. Những bài thơ viết dở, nét chữ xô nghiêng chẳng rõ đầu cuối, em vạch vào đó những nghệch ngoạc nỗi niềm.

_MG_7698

Note : И. А. Бунин (-st-)

Posted on Updated on

* Tác phẩm:
– Những bài thơ (Стихотворения, 1891), tập thơ.
– Tanka (Танка, 1894), truyện ngắn.
– Nơi cuối trời và các truyện ngắn khác (На край света и другие рассказы, 1897), tập truyện.
– Dưới bầu trời rộng mở (Под открытым небом, 1898), tập thơ.
– Những quả táo Antonov (Антоновские яблоки, 1900), truyện ngắn.
– Lá rụng (Листопад, 1901), tập thơ.
– Con đường mới (Новая дорога, 1901), truyện ngắn.
– Làng (Деревня, 1910), truyện vừa.
– Sukhodol (Суходол, 1911), truyện vừa.
– Những người anh em (Братья, 1914), truyện ngắn.
– Quý ông từ San Francisco (Господин из Сан-Франциско, 1915), truyện vừa.
– Hơi thở nhẹ (Легкое дыхание, 1916), truyện ngắn.
– Những giấc mơ của Trang (Сны Чанга, 1916), truyện ngắn.
– Bà già (Старуха, 1916), truyện ngắn.
– Hoa hồng của Yerikhon (Роза Иерихона, 1924), tập truyện.
– Tình yêu của Mitia (Митина любовь, 1926), truyện vừa.
– Những ngày đáng nguyền rủa (Окаянные дни, 1926), nhật kí.
– Say nắng (Солнечный удар, 1927), truyện ngắn.
– Cuộc đời Arseniev (Жизнь Арсеньева, 1930), tiểu thuyết.
– Giải phóng Tolstoi (Освобождение Толстого, 1937), tiểu luận.
– Những con đường rợp bóng cây (Темные аллеи, 1943), tập truyện.
– Hồi tưởng (Воспоминания, 1950), tập kí.

* Tác phẩm đã dịch ra tiếng Việt:
– Tuyển truyện Bunin, Hà Ngọc dịch và giới thiệu, NXB Văn Học, 1987.
– Nàng Lika (tập truyện), Phan Hồng Giang dịch, NXB Tác Phẩm Mới, 1988.
– Hơi thở nhẹ (tập truyện, gồm các truyện: Hơi thở nhẹ, Say nắng, Natali, Ruxia), Phan Hồng Giang dịch, NXB Hà Nội, 2003.
– Những lối đi dưới hàng cây tăm tối, Hà Ngọc dịch, NXB Văn học, 2006.
– Ivan Bunin: Tuyển tập tác phẩm (thơ và truyện ngắn), Phan Hồng Giang giới thiệu, nhiều người dịch, NXB Lao Động – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2002.
– Một chuyện tình nho nhỏ, ở một thành phố thân quen, Những con đường rợp bóng cây xanh, Kapkaz, Thái Bá Tân dịch, in trong Tạp chí Văn học nước ngoài, số 1/1996;
– Một chuyện tình nho nhỏ, ở một thành phố thân quen, Những con đường rợp bóng cây xanh, Kapkaz, Thái Bá Tân dịch, in trong Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Văn Học, 1999.
– Thơ Bunin, in trong quyển Thái Bá Tân. Thơ dịch, NXB Lao Động, 2001.
– Quý ông từ San Francisco (truyện dài), Hà Ngọc dịch, NXB Kim Đồng – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2004.
– Trên biển đêm khuya, Ruxia, Phan Hồng Giang dịch, in trong Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Văn Học, 1997.
– Natali, Phan Hồng Giang dịch, in trong Truyện ngắn chọn lọc – tác giả đoạt giải Nobel, NXB Hội Nhà Văn, 1998; 100 truyện ngắn hay thế giới (tập 1), NXB Hội Nhà Văn, 1999; Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Hội Nhà Văn, 2004.
– Hơi thở nhẹ, Phan Hồng Giang dịch, in trong Truyện ngắn chọn lọc – tác giả đoạt giải Nobel, NXB Hội Nhà Văn, 1998; 100 truyện ngắn hay thế giới (tập 1), NXB Hội Nhà Văn, 1999; Những truyện ngắn nổi tiếng thế giới, NXB Hội Nhà Văn, 2000; Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Hội Nhà Văn, 2004.
– Say nắng, Phan Hồng Giang dịch, in trong tập truyện ngắn nước ngoài Say nắng, NXB Quân Đội Nhân Dân 1993; Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Văn Học, 1997; Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Hội Nhà Văn, 2004.
– Lần gặp gỡ cuối cùng, Phan Hồng Giang dịch, in trong Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Hội Nhà Văn, 2004.